🎖️ Hành Vi Khách Hàng Trong Thương Mại Điện Tử

Với nopCommerce, chúng tôi có thể tạo ra hệ thống Thương mại điện tử tối ưu theo nhu cầu của khách hàng. Các phụ trợ hiện đại và tinh vi của nopCommerce cho phép cấu hình nhanh chóng và đơn giản cấu hình của cửa hàng. José Lopez, CEO của JMC Software AG (Thụy Sĩ) Thử tình Trong thương mại điện tử, các hành vi gian lận thẻ tín dụng xảy ra đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với thương mại truyền thống. Nếu như trong thương mại truyền thống, việc mất thẻ hoặc thẻ bị đánh cắp là mối đe doạ lớn nhất đối với khách hàng thì trong Viettel Post xin thông báo điều chính bảng giá Chuyển phát Thương mại điện tử 2021 với chính sách giá ưu đãi cùng nhiều tiện ích đi kèm. Bảng giá mới có hiệu lực từ ngày 15/05/2021 Viettel Post hân hạnh là đơn vị đồng hành cùng Quý khách hàng trong việc kinh doanh, vận 1. Mô hình Loại hình cung cấp dịch vụ trên Ứng dụng: Đặt hàng trực tuyến và giao tận nơi; Voucher giảm giá. Ứng dụng sàn giao dịch Thương mại điện tử (TMĐT) Shopee (Ứng dụng Shopee), do Công ty TNHH Shopee ("Công ty", "Shopee") thực hiện hoạt động và vận hành. Thành Khai mạc lớp tập huấn "Tham gia và bán hàng trên sàn giao dịch thương mại điện tử tại khu vực miền Tây tỉnh Quảng Ninh" cho các doanh nghiệp năm 2022. Đăng lúc: 21-07-2022 04:47:00 PM. Thực hiện Kế hoạch Xúc tiến thương mại Quảng Ninh năm 2022 về nội dung tổ chức các khóa HÀNH VI VÀ CÁC ĐIỂM CHẠM KHÁCH HÀNG Thực trạng tương tác người dùng trong khi mua bán thời Covid (và hậu Covid) với áp dụng 5K triệt để sẽ hoàn toàn khác với trước đây. Đó là chưa kể đến sự dịch chuyển về hành vi mua hàng cũng sẽ thay đổi rất nhiều. Cổng thương mại điện tử OCB GO của Ngân hàng TMCP Phương Đông. 1800 6678 (84) 28 7305 6678. OCB OMNI. Miễn phí mọi giao dịch chuyển tiền trong và ngoài hệ thống; nhà hàng, khách sạn quốc t - Khách hàng không tìm thấy sản phẩm khi tìm kiếm trên sàn; - Nhiều tháng không phát sinh đơn hàng mới 💬 Thực tế, sản phẩm sau nhiều ngày không thể tiếp cận với khách hàng dẫn tới: Traffic kém -> Không phát sinh đơn mới -> Chuyển đổi thấp -> Tiếp tục rớt hạng. Vòng HHwX. NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI NGÀNH BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 TẠI VIỆT NAM Tác giả Lưu Huy - Giảng viên Khoa Kinh tế- Quản trị Tóm tắt Đại dịch Covid-19 đang ảnh hưởng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực; trong đó thị trường bán lẻ cũng không phải là ngoại lệ. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của kỹ thuật số là tác nhân chuyển hóa thế giới thực thành thế giới số, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế số, thương mại điện tử. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng của người tiêu dùng giúp các doanh nghiệp kinh doanh dựa trên nền tảng thương mại điện tử có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Tác giả thực hiện nghiên cứu dựa trên bảng khảo sát từ tháng 03/2021 đến tháng 05/2021 được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh và thực hiện bằng phương pháp hồi qui bội. Kết quả cho thấy các yếu tố Thuận tiện, niềm tin, kinh nghiệm, thiết kế trang web, tiết kiệm thời gian, bảo mật là các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng thương mại điện tử của người tiêu dùng. Từ khóa Covid-19, ngành bán lẻ, thương mại điện tử. Abstract The Covid-19 pandemic is affecting most industries and fields; in which the retail market is no exception. Besides, along with the development of digital, which transforms the real world into the digital world, it will strongly promote the development of the digital economy and e-commerce. Researching the factors affecting consumer behavior helps e-commerce businesses to have specific solutions to improve their competitiveness. The authors conducted a survey based on the survey from March 2018 to June 2018 conducted in Ho Chi Minh City and performed by multiple regression. Results show that the following factors Convenience, trust, experience, web site design, time savings, security and bargaining are factors that affect the use of e-commerce. consumption. Key words Covid – 19, E-commerce, Retail. 1. Giới thiệu Giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19 đã thay đổi những thói quen lâu năm, khiến ngay cả những người lớn tuổi và các đối tượng tiêu dùng vốn chỉ trung thành với cách mua hàng truyền thống cũng cân nhắc về việc việc mua sắm trực tuyến. Với sự xuất hiện của hàng loạt các trang web và ứng dụng sàn thương mại điện tử trong nước và xuyên biên giới như Shopee, Lazada, Zalora hay JD…, khách hàng có thể dễ dàng mua sắm mọi thứ, từ đồ tạp hóa, điện tử, cho đến các dịch vụ giáo dục và đặt phòng khách sạn chỉ với một cú nhấp chuột hoặc những thao tác đơn giản trên thiết bị di động thông minh và điều quan trọng là với mức giá rất phải chăng. Có thể thấy rõ ngành thương mại điện tử đang ngày càng mang lại nhiều động lực cho sự phục hồi kinh tế vốn chịu tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19. Theo báo cáo do Lazada - nền tảng thương mại điện tử hàng đầu ở Đông Nam Á - công bố mới đây, có tới 52% người bán hàng ở Indonesia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Singapore đã đạt mức tăng trưởng doanh thu cao trong nửa đầu năm 2021, trong khi 70% kỳ vọng rằng mức tăng doanh thu sẽ tiếp tục được nâng lên thêm 10% trong quý III/2021. Trong thực tế, internet đang giúp các doanh nghiệp đạt được khả năng marketing toàn cầu với chi phí rất thấp, trong khi các phần mềm quản lý tài chính và kế toán giúp nâng cao khả năng quản lý, giảm được các chi phí khá cao liên quan đến quản lý doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tạo ra các “kho hàng” ảo để liên kết trực tiếp nhà sản xuất và khách hàng cuối cùng. Vì vậy, việc “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thương mại điện tử đối với ngành bán lẻ trong bối cảnh đại dịch Covid -19” là tiền đề để các doanh nghiệp dùng làm cở sở xây dựng giải pháp nhằm đáp ứng với diễn biến dịch bệnh đang diễn cùng với cách mạng công nghiệp đang từng bước thay đổi mạnh mẽ ngành bán lẻ. 2. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Tổng quan về thương mại điện tử Việt Nam “Kinh tế số” là nền kinh tế dựa trên các công nghệ kỹ thuật số. Thương mại điện tử, quảng cáo trực tuyến trên các trang mạng xã hội… chính là những dấu ấn của kinh tế số hóa trong đời sống của người dân Việt Nam những năm gần đây. Theo nghiên cứu của Trung tâm kinh doanh toàn cầu của Đại học Tufts Mỹ, hiện Việt Nam xếp hạng 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số hóa nhanh trên thế giới, đồng thời xếp hạng 22 về tốc độ phát triển số hóa. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang trong nền kinh tế số hóa và lĩnh vực thương mại điện tử có triển vọng tiến xa hơn. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 06 tháng đầu năm 2021 đạt 2463,8 nghìn tỉ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,55%. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 06 tháng đạt 1985,4 nghìn tỉ đồng, chiếm 80,6% tổng mức và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhưng tâm lý người dân trong mua sắm hàng hóa tương đối bình tĩnh trong 06 tháng đầu năm. Giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ… vẫn sẽ là một yếu tố quan trọng thu hút người dùng mua hàng trực tuyến. Đồng thời, một khi càng nhiều người tiêu dùng biết về thương mại điện tử thì thương hiệu, cung cách phục vụ, nền tảng công nghệ, các dịch vụ gia tăng như vận chuyển, thanh toán, hậu mãi, sẽ phải càng hoàn thiện hơn. Thương mại điện tử Khi internet trở nên thương mại hóa hơn và người dùng bắt đầu tham gia trên toàn thế giới vào đầu những năm 1990, thuật ngữ Thương mại điện tử Electronic Commerce – EC được đặt ra và các ứng dụng EC mở rộng nhanh chóng Turban và cộng sự, 2002. Mặc dù có nhiều công cụ điện tử khác nhau như các thiết bị được sử dụng rộng rãi trong EC như chuyển tiền điện tử EFT và dữ liệu điện tử trao đổi EDI, hầu hết EC hiện đang được thực hiện qua internet. Trong quá khứ, các doanh nghiệp lớn đã sử dụng nhiều mạng nội bộ để thực hiện EC, nhưng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ chi phí cao là rào cản để họ có thể tiếp cận với EC. Tuy nhiên, Internet đã thay đổi vấn đề này bằng cách làm cho mọi giao dịch dễ dàng và rẻ hơn. Các định nghĩa của EC rất nhiều và đa dạng. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO xác định EC là quá trình doanh nghiệp thực hiện sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hàng hoặc giao hàng và dịch vụ bằng phương tiện điện tử Baker và McKenzie, 2001. Một định nghĩa khác, được cung cấp bởi Nhóm thương mại điện tử của Liên minh châu Âu, độc quyền giới hạn hoạt động của EC trên internet và được biết đến rằng thương mại điện tử là phương tiện đặc biệt để mua và bán sản phẩm hoặc dịch vụ qua Internet Schulze và Baumgartner, 2001. Do không có định nghĩa thống nhất nên nhóm tác giả đã áp dụng mô tả được cung cấp bởi Globerman và cộng sự 2001 để xác định thương mại dựa trên internet là thông qua các phương tiện truyền thông điện tử của Internet, người mua và người bán thực hiện bất kỳ giao dịch kinh tế tạo thành một thỏa thuận hợp đồng liên quan đến việc định giá và phân phối hàng hóa và dịch vụ, và hoàn thành giao dịch thông qua việc cung cấp các khoản thanh toán hoặc dịch vụ theo hợp đồng. Vì EC có thể bao gồm nhiều lĩnh vực phụ, trong các hoạt động chung của EC có thể được phân loại thành ba trường hợp sau đây 1 sự liên kết của một công ty với các kênh trước và sau của nó ví dụ các nhà bán lẻ, nhà phân phối và nhà cung cấp, được gọi là EC giữa các doanh nghiệp B2B; 2 các hoạt động thương mại giữa doanh nghiệp và khách hàng cuối cùng B2C; và 3 quản lý trong doanh nghiệp, tập trung vào việc hỗ trợ doanh nghiệp các hoạt động và sự tích hợp các hoạt động của phòng ban Shaw và cộng sự, 1997. Các mối quan hệ và mô hình nghiên cứu Chiang & Dholakia 2003 trong bài viết của họ kiểm tra ý định của người tiêu dùng để mua sắm trực tuyến thông qua giai đoạn mua lại. Nghiên cứu kết hợp ba biến quan trọng có khả năng ảnh hưởng đến ý định người tiêu dùng gồm a Đặc điểm thuận lợi của kênh mua sắm, b Đặc tính loại sản phẩm và Nhận thức giá của sản phẩm. Vijasarathy 2003 đã kiểm tra mối quan hệ giữa định hướng mua sắm, loại sản phẩm và ý định người tiêu dùng trong việc sử dụng Internet để mua sắm. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy rằng loại sản phẩm, có ảnh hưởng độc lập đáng kể đến ý định mua sắm trực tuyến; tuy nhiên nghiên cứu không kiểm định mối quan hệ giữa định hướng trước, trong và sau mua sắm. Monsuwe, Dellaert và Ruyter 2004 đã đề xuất một khuôn khổ để tăng cường hiểu biết về thái độ của người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến và ý định của họ đối với cửa hàng trên internet. Khuôn khổ sử dụng các cấu trúc của mô hình chấp nhận công nghệ Technology acceptance model – TAM làm cơ sở. Tác giả đề xuất thái độ của người tiêu dùng đối với việc mua sắm trên internet đầu tiên phụ thuộc vào các tác động trực tiếp của trực tuyến có liên quan tính năng mua sắm. Các tính năng mua sắm trực tuyến có thể là nhận thức của người tiêu dùng về chức năng và các chiều kích tiện dụng như dễ sử dụng và sự tiện ích hoặc nhận thức của họ về cảm xúc và trải nghiệm hay hưởng thụ. Kim và Lee 2004 trong nghiên cứu của họ tập trung vào nhiều yếu tố tình cảm ý định tìm kiếm trực tuyến, trong đó được tìm thấy là một dự đoán chính về ý định mua hàng trực tuyến. Họ kết luận rằng giá trị thực dụng tìm kiếm thông tin trên internet, giá trị âm thanh của tìm kiếm thông tin trên internet, lợi ích nhận thức của internet mua sắm, nhận thức rủi ro về mua sắm qua internet và trải nghiệm mua sắm trên internet được dự đoán là ý định tìm kiếm trực tuyến tốt. Schimmel 2005 đã tiến hành một cuộc khảo sát của người tiêu dùng để kiểm tra phương pháp thông điệp truyền thông nào tác động đến việc mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng. Những nỗ lực truyền miệng và quan hệ công chúng là những động lực quan trọng nhất, trong khi truyền thông trực tuyến lại cho hiệu quả dẫn đầu. Rajamma và Neeley 2005 đã xem xét ảnh hưởng của định hướng xã hội của khách hàng. Nghiên cứu chứng minh rằng người mua sắm trực tuyến có nhiều khả năng là người mua sắm thực tế hơn và có khả năng thu được nhiều sự hưởng thụ hơn từ mua sắm. Định hướng xã hội của người mua sắm không ảnh hưởng đến sở thích mua sắm trực tuyến của họ. Ngoài ra đàn ông thích mua sắm trực tuyến nhiều hơn phụ nữ. Jajawardhena và cộng sự 2007 đã xem xét ý định mua của người tiêu dùng bán lẻ trực tuyến, được phân đoạn theo hướng mua hàng của họ. Các tác giả kết luận rằng định hướng mua hàng của người tiêu dùng không ảnh hưởng đáng kể đến xu hướng của họ đến cửa hàng trực tuyến. Có mối quan hệ giữa ý định mua hàng và giới tính. Prasad và Aryasree 2009 đã khám phá các yếu tố quyết định hành vi của người mua sắm như sự tiện lợi, dịch vụ khách hàng, tin cậy, môi trường cửa hàng web và hưởng thụ mua sắm trên web. Các nhà khoa học kết luận rằng tiện lợi, cửa hàng trực tuyến, mua sắm trực tuyến và dịch vụ của khách hàng, thay vì tin tưởng, đã có tác động đáng kể đến sự sẵn lòng mua từ cửa hàng bán lẻ trực tuyến. Mong đợi sự tin tưởng và dịch vụ của khách hàng, tất cả các khác các yếu tố có ý nghĩa với tham chiếu đến sự bảo trợ của các cửa hàng bán lẻ trực tuyến. Rao và Mehdi 2010 trong nghiên cứu đã khám phá hành vi của người dùng internet. Họ kết luận rằng an ninh là yếu tố quan trọng nhất từ yếu tố trực tuyến từ người mua trực tuyến, sau đó là yếu tố độ tin cậy. Bannergy, Dutta và Das Gupta 2010 đã tiến hành một nghiên cứu về thái độ của khách hàng đối với mua sắm trực tuyến. Các nghiên cứu cho thấy trong số 202 người trả lời đã mua hàng trực tuyến, 89,1% hơi hài lòng và 96,1% khách hàng hài lòng cũng có ý định tưởng thức mua sắm trực tuyến trong tương lai. Nhà nghiên cứu cũng tiết lộ rằng có mối liên hệ đáng kể giữa mua sắm trực tuyến và thu nhập gia đình hàng tháng, tần suất internet mức sử dụng và thời gian mỗi phiên sử dụng Internet. Bài viết của Pallavi Kumari 2012 cho thấy rằng thị trường Ấn Độ là ảnh hưởng của người nổi tiếng, mua sắm trực tuyến, khuyến mại và sự phổ biến của các sản phẩm thân thiện với môi trường. Nhà bán lẻ cần cập nhật thông tin với công dân vì họ chủ động hơn và có thể tiếp cận tốt hơn với thông tin và họ là những tiêu chuẩn mới được tạo ra thêm giờ. Tìm hiểu tất cả về thương mại điện tử và Marketing online là nhu cầu cấp thiết của mọi sinh viên cũng như mọi nhà quản lý tiếp thị và kinh doanh. Không ai có thể bỏ qua kênh kinh doanh online và hy vọng phát triển kinh doanh theo cách truyền thống. Ngay cả khi một Tổ chức tiếp tục khám phá và phát triển các kênh bán hàng và phân phối truyền thống của mình, sự hiện diện trực tuyến là thứ cần được coi là một chiến lược tiếp thị song song, đơn giản là thực tế là đối thủ sẽ có mặt và hiển thị cho khách hàng và quan trọng hơn là khách hàng mong đợi bạn có sẵn trên mạng. 1, Tìm hiểu hành vi khách hàng trên internet a, Hành vi người dùng được kiểm soát trên internet Điểm khởi đầu để hiểu tất cả về kinh doanh online là trước tiên phải hiểu và khám phá Internet và người dùng . Hiểu về hồ sơ của người dùng, thói quen và hành vi của họ cho chúng ta ý tưởng về thị trường và đặc điểm của nhóm khách hàng. Người ta cần lưu ý rằng internet cung cấp một số tính năng cơ bản và độc đáo làm cho nó hấp dẫn cho các cá nhân truy cập internet và tìm kiếm. Internet mang sức mạnh của việc cung cấp thông tin trên toàn cầu cũng như ngay lập tức. Lượng thông tin và dữ liệu có sẵn trên internet rất lớn và đa dạng đến mức khiến cho cá nhân cảm thấy choáng ngợp. Thực sự nó đưa người dùng cá nhân trên một đường cao tốc thông tin. Với việc nhận ra điều này, một cá nhân cảm thấy được bao bọc và mạnh mẽ cùng một lúc. Duyệt Internet sau đó trở thành một thói quen phấn khởi và tự do, nơi khách hàng quen với việc mua sắm trực tuyến và phụ thuộc vào internet cho các dịch vụ của mình. b, Khai thác dữ liệu người dùng trên internet Một khi có sự hiểu biết về tất cả những gì về internet, chúng ta thấy rằng các cá nhân có thói quen đăng nhập và duyệt internet trong vài giờ mỗi ngày. Họ có thể không có nhu cầu cụ thể nhưng thích kết bạn, tham gia thảo luận và thường tham gia hangout. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích cụ thể và nói rằng trong số hàng triệu người dùng trên internet, hầu hết trong số họ là những người đàn ông không kết hôn nhưng là các chuyên gia và sinh viên. Từ hồ sơ của người dùng, rất rõ ràng rằng nhu cầu sử dụng internet của họ phải liên quan đến việc tìm kiếm thông tin, gửi email, trò chuyện và kết bạn. Một nhu cầu cơ bản của mỗi con người là nhu cầu được tiếp xúc với người khác và giao tiếp với các cá nhân khác. 2, Thực trạng dùng internet hiện nay Chúng tôi cũng có những gia đình có internet ở nhà và quen sử dụng internet để mua sắm trực tuyến và thanh toán hóa đơn. Ngân hàng trực tuyến đã được mọi người chấp nhận rộng rãi vì các ngân hàng đã quản lý để cung cấp các bàn giao dịch đơn giản nhưng an toàn, giúp cho người dùng rất thuận tiện. Mọi người đã chấp nhận và bắt đầu mua sắm trực tuyến một số thứ như sách, đồ nội thất, quần áo, Trong khi mua sắm cũng vậy, các cá nhân tìm kiếm sự quen thuộc với Tổ chức có mặt trước trên internet. Amazon, E Bay ... đã trở thành biểu tượng của niềm tin. Hầu hết mọi người sống ở các thành phố đã bắt đầu phụ thuộc vào internet để đặt vé xem phim, đặt hàng Pizza khi giao hàng tận nhà cũng như sắp xếp chuyến đi và tải nhạc và phim. Một thực tế nổi bật là mọi người sử dụng internet chủ yếu để tìm kiếm thông tin. Tìm kiếm giữ chìa khóa để thu hút khách hàng và khiến anh ta kiểm tra những gì doanh nghiệp đã cung cấp. Thực tế thứ hai là hầu hết người dùng internet sử dụng internet không phải để mua mà để duyệt qua các cộng đồng ảo và kiểm tra nhiều thông tin khác nhau. Điều này cho chúng ta manh mối rằng các trang web phải đủ hấp dẫn để thu hút sự chú ý của anh ta. Có một thực tế khác mà người ta có thể nhìn qua, đó là số lượng người dùng trên internet là một phần nhỏ của toàn bộ cộng đồng và con số này đang tăng lên mỗi ngày. Vì vậy, ai làm tất cả những điều này có nghĩa với người quản lý tiếp thị đang cố gắng vạch ra một chiến lược tiếp thị E cho doanh nghiệp của mình?. 3, Kết quả của việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng Một thực tế nổi bật là mọi người sử dụng internet chủ yếu để tìm kiếm thông tin. Tìm kiếm giữ chìa khóa để thu hút khách hàng và khiến anh ta kiểm tra những gì doanh nghiệp đã cung cấp. Thực tế thứ hai là hầu hết người dùng internet sử dụng internet không phải để mua mà để duyệt qua các cộng đồng ảo và kiểm tra nhiều thông tin khác nhau. Điều này cho chúng ta manh mối rằng các trang web phải đủ hấp dẫn để thu hút sự chú ý của anh ta. Có một thực tế khác mà người ta có thể nhìn qua, đó là số lượng người dùng trên internet là một phần nhỏ của toàn bộ cộng đồng và con số này đang tăng lên mỗi ngày. Vì vậy, ai làm tất cả những điều này có nghĩa với người quản lý tiếp thị đang cố gắng vạch ra một chiến lược tiếp thị E cho doanh nghiệp của mình?. Nghiên cứu hành vi và hiểu nhu cầu của khách hàng internet cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về cách tạo mối quan hệ với khách hàng qua internet và đưa ra các giải pháp tùy chỉnh . Khách hàng Internet ngày nay đang tìm kiếm sự thuận tiện cho việc mua sắm và giao dịch một cách dễ dàng và cũng đang tìm kiếm những món hời rẻ nhất cũng như dịch vụ và giao hàng nhanh hơn. Đây là những nhu cầu cơ bản của mọi khách hàng sẽ thông qua trang web của bạn. Nhưng sau đó, làm thế nào bạn sẽ nổi bật giữa các đối thủ và thu hút khách hàng của bạn vào một mối quan hệ là thách thức chính trong E Marketing. Sự ra đời của Internet đã dần thay đổi phương thức giao tiếp, tiếp nhận và xử lý thông tin, kiến thức của chúng ta. Thay vì tra cứu thông tin qua sách tham khảo, báo chí hoặc tham khảo bạn bè như trước, thì giờ chúng ta chỉ cần tra “Google” – một thuật ngữ đã trở nên thông dụng hiện nay. Chỉ với 1 cú nhấp chuột, mọi người có thể dễ dàng tra cứu thông tin và thực hiện giao dịch mua bán thông qua Internet. Những hoạt động này được gọi chung là eCommerce, hay Thương mại điện tử, quá trình mua bán sản phẩm hoặc dịch vụ trực tuyến. Thương mại điện tử TMĐT phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và có những ảnh hưởng không chỉ với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, mà còn đối với người bán hàng. Nó cung cấp cho các doanh nghiệp một nền tảng vô cùng mạnh mẽ để mở rộng và giới thiệu doanh nghiệp đến với khách hàng. Trên thực tế, TMĐT đã góp phần khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp tạo ra những bước cải tiến và nâng cao chất lượng của dịch vụ, lấy khách hàng làm trọng tâm và đồng thời bắt kịp thời đại công nghệ. Ngành khách sạn cũng không ngoại lệ. Khách du lịch không còn nhờ đến đại lý du lịch để đặt phòng. Việc đặt phòng thường được thực hiện qua các trang web khách sạn, hay kênh OTA. Vậy thương mại điện tử đã đem đến những tác động như thế nào đến ngành Khách sạn để có những bước đột phá như vậy? Nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng nhờ những dịch vụ “tập trung vào khách hàng” Mỗi một người đều có những sở thích và yêu cầu riêng khi tìm kiếm một sản phẩm hoặc dịch vụ. Khi công nghệ ngày càng trở nên ưu việt, sự cạnh tranh càng trở nên vô cùng gay gắt và quyết liệt. Các chủ khách sạn cung cấp một loạt các dịch vụ đa dạng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và đảm bảo rằng họ không chỉ tận hưởng kỳ nghỉ hiện tại, mà sẽ còn quay lại trong những kỳ nghỉ tiếp theo. Điều đó có nghĩa là chủ khách sạn cần lưu lại những thông tin cá nhân của từng khách, theo dõi và tạo cảm giác cá nhân hóa thu hút khách hàng. TMĐT đã giúp cho chủ khách sạn thiết lập dữ liệu khách hàng ngay sau khi việc đặt phòng trực tuyến của họ hoàn thành. Nghe có vẻ phức tạp, nhưng mọi việc đều có thể dễ dàng làm được với PMS – Hệ thống quản lý vận hành khách sạn. Toàn bộ dữ liệu của khách hàng như thói quen dọn phòng, sở thích về phòng ở, ẩm thực… đều được tự động lưu lại sau khi họ tiến hành đặt phòng thành công. Khách hàng vui vẻ quay lại khách sạn chính là thể hiện họ trung thành với khách sạn của bạn cho dù mức giá có cao hơn, Trên thực tế, TMĐT đã làm cho ngành khách sạn thay đổi cách thức kinh doanh. Các chủ khách sạn phải điều chỉnh những dịch vụ của họ phù hợp với trải nghiệm của khách hàng, chú trọng việc tập trung vào khách hàng, để mang lại doanh thu cao hơn và bền vững hơn. Nâng cao nhận thức về Thương hiệu trong nước và quốc tế Để số lượng đặt phòng trực tuyến tăng nhanh, các chủ khách sạn sẽ cần duy trì danh tiếng và đặc quyền trực tuyến thông qua các kênh truyền thông xã hội, các trang web đánh giá khách sạn trực tuyến uy tín, các công cụ tìm kiếm cũng như trang web khách sạn của riêng họ. Càng nhiều người biết đến thương hiệu của bạn, họ sẽ quyết định càng nhanh chóng. Nếu bạn chưa làm bất cứ điều gì để đẩy danh tiếng khách sạn lên, bạn sẽ bị bỏ lại phía sau. Dưới đây là một số tiêu chí cơ bản mà website khách sạn của bạn có thể tham khảo Website có giao diện thân thiện trên thiết bị di động không? Nếu không, hãy tiến hành điều chỉnh ngay. Mọi người hiện nay gần như sử dụng điện thoại di động cho mọi hoạt động tìm kiếm thông tin, giao dịch trực tuyến. Website có xuất hiện trên công cụ tìm kiếm không? Và với những từ khóa nào? Những từ khóa đó có giúp ích cho việc bán hàng không? Khách sạn có trang trên mạng xã hội không? Nếu không, thì tại sao? Cách dễ dàng và nhanh nhất để tiếp cận khách hàng là thông qua các trang mạng xã hội. Ngoài ra, đây là một nơi tuyệt vời để tương tác với khách hàng của bạn, và thực hiện các chiến dịch để tăng lượng đặt phòng. Nội dung trang web của bạn đã đủ hấp dẫn? Thay đổi từ ngữ, và bố cục để truyền tải thông điệp tốt hơn. Áp dụng thử nghiệm A/B để trang web được tối ưu nhất có thể. Tư duy quốc tế, hành động quốc tế. Nếu khách sạn của bạn được chứng nhận và tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế để chào đón khách toàn cầu, hãy chuẩn bị thật tốt trang web của bạn bằng cách hỗ trợ nhiều ngôn ngữ, phương thức giao dịch và các tiêu chuẩn bảo mật quốc tế. Thương mại điện tử giúp mở rộng thương hiệu của bạn tới thị trường quốc tế. Hứa hẹn doanh thu cao hơn, đồng thời cam kết trọng trách cao hơn để duy trì danh tiếng thương hiệu. Dự đoán và thiết lập xu hướng Mặc dù công nghệ Thực tế ảo Virtual Reality – VR đã xuất hiện từ khoảng 2 thập kỷ gần đây, nhưng nó chỉ trở nên phổ biến sau khi chiếc tai nghe thực tế ảo đầu tiên được công bố ra trên thị trường cách đây 7 năm. Ngành công nghiệp trò chơi điện tử đã đầu tư vào công nghệ thực tế ảo VR và đã tạo thêm điều kiện để công nghệ này có thể phát triển và sản xuất hàng loạt. Các khách sạn gần đây đã áp dụng công nghệ thực tế ảo, cho phép khách hàng có cái nhìn sống động và chân thật nhất về môi trường xung quanh khách sạn, khám phá khu vực nhà hàng, cửa hàng, phòng tập, hồ bơi, thậm chí là tham quan phòng khách sạn. Điều này thu hút sự tò mò của khách hàng và đẩy mạnh kinh doanh trực tuyến. Xu hướng khách sạn gần đây ảnh hưởng bởi tình hình đại dịch và đáng chú ý là hạn chế tiếp xúc trong trải nghiệm tại khách sạn với thanh toàn không tiền mặt chúng tôi sẽ có một bài blog chi tiết về vấn đề này sắp tới. Đừng quên theo dõi!. Để trở thành người dẫn đầu xu hướng cần có sự can đảm và kiên nhẫn như một người kinh doanh. Điều đó không phải lúc nào cũng thành công, nhưng kinh nghiệm và kiến thức bạn thu thập được trong quá trình là vô giá. Một năm sau khi đại dịch bùng phát, nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề với việc giãn cách xã hội và những thay đổi lớn trong lối sống. Các nhà bán lẻ phải đóng cửa hàng nghìn cửa hàng trực tiếp, các trung tâm thương mại cũng phải đóng cửa. Mặt khác, việc bán lẻ trực tuyến đã đạt đến giai đoạn đỉnh cao, tăng 71,1% tại Singapore và 27,6% trên thế giới, theo báo cáo của eMarketer. Việc này đã mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp từ nhiều ngành khác nhau. Mặc dù thiệt hại do đại dịch gây ra là không thể bàn cãi được, nhưng những tác động của TMĐT mang lại cho ngành khách sạn cũng rất đáng kể và không thể nói hết được. TMĐT đã có những tác động như thế nào với doanh nghiệp của bạn trong vài năm trở lại đây? Hãy chia sẻ với chúng tôi trong phần bình luận bên dưới. Chúng tôi rất muốn nghe những chia sẻ của bạn! Cùng theo dõi buổi Hội thảo trực tuyến của chúng tôi với chủ đề Ứng dụng thương mại điện tử trong ngành Khách sạn dưới đây 

hành vi khách hàng trong thương mại điện tử